Việc phát triển và ứng dụng khoa học - công nghệ trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, xã hội được coi là con đường nhanh nhất để rút ngắn thời gian thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây cũng chính là vấn đề đang được toàn Đảng, toàn dân hết sức quan tâm, khi mà khoa học – công nghệ đang từng ngày mở rộng với sự phát triển của nền kinh tế tri thức trong thời đại mới, thời kỳ hội nhập.
Công ty TNHH MTV Tài nguyên và Môi trường Miền nam là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Tổng Công ty Tài nguyên và Môi trường Việt Nam, Công ty hoạt động sản xuất, kinh doanh, tư vấn, dịch vụ trong các lĩnh vực: Đo đạc bản đồ, môi trường, đất đai, bất động sản, xây dựng, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, địa chất, khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu, biển và hải đảo, kiểm định, kinh doanh thiết bị chuyên ngành. Thực hiện các kỹ thuật nông, lâm nghiệp. Nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật. Dạy nghề và số lĩnh vực khác trên phạm vi cả nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật… Công ty luôn xác định việc phát triển công nghệ thông tin là một trong những nhiệm vụ trọng tâm và là yếu tố quan trọng để phát triển doanh nghiệp trong nền kinh tế tri thức. Trong giai đoạn hiện nay, có thể thấy ảnh hưởng của sự bùng nổ khoa học công nghệ trong lĩnh vực đo đạc bản đồ, quản lý đất đai và môi trường là rất rõ rệt. Đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa công nghệ thông tin với các lĩnh vực khoa học công nghệ khác như: Hệ thống định vị toàn cầu, công nghệ xử lý ảnh số, viễn thám, lidar và cả công nghệ điều tra mặt đất bằng kỹ thuật số,… Công ty là một trong số rất ít đơn vị chủ lực chuyên ngành trên toàn quốc trong lĩnh vực đo đạc bản đồ, chính vì vậy, việc thường xuyên nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật công nghệ mới vào sản xuất và quản lý là một trong ba mục tiêu chiến lược của Công ty để phát triển. Trong những năm qua lực lượng cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật trong Công ty đã không ngừng học tập, nghiên cứu và áp dụng thành công nhiều công nghệ tiên tiến trên thế giới thuộc lĩnh vực đo đạc bản đồ, quản lý đất đai, GIS, công nghệ thông tin, môi trường, quản lý doanh nghiệp... nhằm tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả công tác quản lý. Công ty đã đẩy mạnh phong trào nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất, quản lý tại Công ty và hợp tác nghiên cứu, ứng dụng với các đồng nghiệp, các đơn vị bạn, góp phần vào việc đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa, tự động hóa trong lĩnh vực đo đạc bản đồ, quản lý đất đai và môi trường.
1. MÁY THUỶ CHUẨN ĐIỆN TỬ
Trong công tác đo đạc, việc dùng các loại máy thuỷ chuẩn quang cơ như: Ni004, Ni007 của hãng Zeis (CHDC Đức) và Wild N3 của hãng Wild (Thuỵ Sĩ) để xây dựng các lưới độ cao Quốc gia các cấp hạng theo công nghệ truyền thống trước đây luôn là công việc phức tạp, đòi hỏi phải đầu tư nhiều tiền của, thời gian và công sức, chúng ta đã phải mất một quãng thời gian khá dài từ năm 1960 đến năm 1991 mới cơ bản xây dựng được một hệ thống độ cao hạng 1, 2 thống nhất trong cả nước. Tuy nhiên, do nhiều điều kiện khách quan, mạng lưới đã xây dựng có những hạn chế nhất định ảnh hưởng đến độ chính xác và mức độ sử dụng do quy trình đo phức tạp, thời gian thi công kéo dài, dữ liệu đầu vào để xử lý bình sai thành quả không thống nhất.
Đầu năm 2000 Công ty được Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) giao nhiệm vụ khẩn trương hoàn thiện mạng lưới độ cao Quốc gia hạng 1, 2 trong phạm vi cả nước và được chia thành 3 giai đoạn cụ thể như sau:
1. Giai đoạn 1: từ năm 2000 đến 2001 hoàn thiện lưới độ cao hạng 1, 2 khu vực Miền Trung.
2. Giai đoạn 2: từ năm 2001 đến 2002 hoàn thiện lưới độ cao hạng 1, 2 khu vực Miền Nam.
3. Giai đoạn 3: từ năm 2002 đến 2003 hoàn thiện lưới độ cao hạng 1, 2 khu vực Miền Bắc.
Với yêu cầu về thời gian như vậy nếu cứ áp dụng các quy trình đo và dùng máy thuỷ chuẩn quang cơ đo theo phương pháp cổ điển thì không thể hoàn thành được nhiệm vụ, do đó Công ty đã chủ động nhập một loạt máy thuỷ chuẩn điện tử DL-101C và bộ mia có dạng mã vạch do hãng TOPCON của Nhật chế tạo để đưa vào sản xuất.
Sau một thời gian đo thử nghiệm, với những kết quả và độ chính xác đã đạt được, Công ty đã xây dựng quy định kỹ thuật về đo độ cao hạng 1,2 bằng máy thuỷ chuẩn điện tử DL-101C và bộ mia có dạng mã vạch. Quy định đã được Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) chấp nhận và đưa vào sản xuất trong phạm vi cả nước (theo quyết định số 431/2001/QĐ-TCĐC ngày 13/11/2001) 1.1. Ứng dụng cụ thể:
Mạng lưới độ cao hạng 1, 2 được xây dựng bao gồm 57 đường độ cao hạng 1, 2 với tổng chiều dài phải đo là 21.586,4 km, trong đó:
1. Hạng 1 có: 13 đường với chiều dài 11.326,6 km đơn trình và 1.211 điểm độ cao.
2. Hạng 2 có: 44 đường với chiều dài 10.259,8 km đơn trình và 1.117 điểm độ cao.
Kết quả là từ tháng 3 năm 2001 đến tháng 12 năm 2003, với tổng số nhân lực là trên dưới 200 người, Công ty đã hoàn thành nhiệm vụ được giao. 1.2. Kết quả ứng dụng:
Sau khi đo xong toàn bộ mạng lưới, các số liệu đo đã được các cấp kiểm tra nghiệm thu theo đúng quy định, tất cả các đường đo, vòng khép đều đạt độ chính xác theo yêu cầu của quy phạm.
Qua các kết quả tính sai số trung phương ngẫu nhiên và hệ thống, sai số khép đường, sai số khép vòng của các đường đo sử dụng máy thuỷ chuẩn điện tử và một số đường đo kiểm tra bằng máy quang cơ ta thấy các sai số tính được đối với các đường đo bằng máy điện tử đều nhỏ hơn nhiều so với các đường đo bằng máy thuỷ chuẩn quang cơ. 1.3. Kết luận:
Bằng những kết quả đã đạt được trong quá trình thi công, có thể rút ra những nhận xét về việc ứng dụng máy thuỷ chuẩn điện tử để xây dựng các mạng lưới độ cao Quốc gia như sau.
- Đo độ cao hạng 1, 2 bằng máy thuỷ chuẩn điện tử và bộ mia dạng mã vạch đạt độ chính xác cao, đảm bảo mọi yêu cầu kỹ thuật quy phạm.
- Rút ngắn thời gian thi công, giảm đáng kể công việc xử lý tính toán tổng hợp số liệu (số liệu đo được ghi thành các file).
- Quy trình đo đơn giản, không đòi hỏi người sử dụng phải tuân theo quá nhiều công đoạn thao tác phức tạp như các loại máy thuỷ chuẩn quang cơ.
- Khắc phục được những lỗi thông thường và một số hạn chế của các loại máy thuỷ chuẩn quang cơ thường mắc phải.
Nhìn chung, việc ứng dụng máy thuỷ chuẩn điện tử với bộ mia mã vạch để xây dựng lưới độ cao Quốc gia là một quyết định có tính chiến lược trong việc đầu tư thiết bị và công nghệ mới vào sản xuất, tạo đà cho việc phát triển bền vững của Công ty trong tình hình mặt bằng công nghệ trong khu vực và trên thế giới đang phát triển rất mạnh, góp phần quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ chính trị của Công ty.
2. CÔNG NGHỆ GPS
Đến nay, công nghệ GPS đã thay thế công nghệ truyền thống trong việc xây dựng lưới tọa độ, đồng thời mở ra nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực khác nhau vì nó đạt được nhiều tính ưu việt hơn hẳn các phương pháp cũ như độ chính xác cao, thời gian đo nhanh, không phải dựng cột tiêu, ít tốn kém và hầu như thực hiện được trong mọi điều kiện thời tiết. Công nghệ GPS đã mang lại nhiều hiệu quả khoa học như định vị được với độ chính xác tới milimét, khoảng cách đo được lên tới hàng nghìn km, có thể định vị các đối tượng chuyển động tạo cơ sở khoa học mới cho xây dựng các hệ quy chiếu và hệ tọa độ Quốc gia, quan trắc dịch chuyển lục địa, quan trắc biến động vỏ trái đất, dự báo động đất v.v... Trong tiến trình đổi mới và ứng dụng công nghệ mới của ngành, quá trình đổi mới và ứng dụng công nghệ đo đạc và bản đồ ở Công ty TNHH MTV Tài nguyên và Môi trường Miền nam cũng được đẩy mạnh, đã đạt được những thành tựu và hiệu quả quan trọng. Đó là, Công ty đã hoàn thành việc ứng dụng công nghệ GPS trong việc xây dựng các mạng lưới khống chế trắc địa. Ban đầu chỉ có 2 đơn vị trực thuộc Công ty có thiết bị và ứng dụng công nghệ GPS, đến nay hầu hết các Xí nghiệp trực thuộc Công ty đã có thiết bị và ứng dụng thành thạo có hiệu quả công nghệ này. Từ năm 1999 đến nay Công ty TNHH MTV Tài nguyên và Môi trường Miền namlà đơn vị duy nhất được giao nhiệm vụ ứng dụng công nghệ GPS để xây dựng lưới địa chính cơ sở phủ trùm các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Trong vòng 5 năm từ 1999 đến 2003, Công ty đã xây dựng lưới địa chính cơ sở phủ trùm 42 tỉnh với 10.000 điểm.
Năm 1999, Công ty đã tiến hành thử nghiệm ứng dụng công nghệ DGPS đo động theo công nghệ của OMNISTAR, kết quả thử nghiệm cho thấy công nghệ DGPS sử dụng tín hiệu cải chính phân sai phát từ vệ tinh có thể ứng dụng rất có hiệu quả trong việc đo chi tiết bản đồ địa chính đất lâm nghiệp tỷ lệ 1/5000 và 1/10.000, bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ 1/10.000.
Do điều kiện thời tiết khu vực Miền Tây Nam Bộ trong những năm gần đây không thể bay chụp ảnh hàng không được, để đáp ứng kịp tiến độ cho việc thành lập cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý khu vực Cà Mau nói riêng, và cho toàn dự án thành lập cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý các thành phố và khu công nghiệp nói chung. Năm 2009 Công ty đã tiến hành thử nghiệm ứng dụng công nghệ LODG để thành lập cơ sở nền thông tin địa lý và thành lập bản đồ địa chính. Kết quả thử nghiệm đạt được khi ứng dụng công nghệ LODG kết hợp với xây dựng mô hình Geoid địa phương đạt độ chính xác để để thành lập cơ sở nền thông tin địa lý tỷ lệ 1/2000 trở lên. Về mặt phẳng đạt độ chính xác để lập lưới khống chế đo vẽ, đo chi tiết ranh giới thửa đất phục vụ thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1/500 trở lên. Kết quả đạt độ chính xác để thành lập cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý tỷ lệ 1/2000 trở lên này đã được Cục Đo đạc Bản đồ Việt Nam công nhận và cho phép áp dụng. Kết quả đạt độ chính xác lập lưới khống chế đo vẽ, đo chi tiết ranh giới thửa đất phục vụ thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1/500 trở lên đã được Tổng Cục Quản lý Đất đai công nhận và cho phép áp dụng.
Năm 2011, khi Công ty được giao thực hiện dự án VLAP tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, đối với khu vực trồng cây ăn trái, trồng dừa, thực phủ dày đặc lên đến 90% nếu thực thiện bằng phương pháp toàn đạc thì khó thực hiện được, Công ty đã đưa công nghệ LODG vào áp dụng trong thi công và đã thành công 2.1. Ứng dụng cụ thể:
- Thành lập cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý tỷ lệ 1/2000 204 mảnh TP. Cà Mau.
- Thành lập cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý tỷ lệ 1/2000 123 mảnh TP. Bạc Liêu.
- Thành lập cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý tỷ lệ 1/2000 64 Mảnh TP. Bên Tre.
- Thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1/1000, 1/2000 19 xã thuộc huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
- Thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1/1000, 1/2000 25 xã thuộc huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
- Thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1/1000, 1/2000 16 xã thuộc huyện Chợ Lách, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre. 2.2. Kết quả ứng dụng:
- Sau khi thi công xong các sản phẩm trên đã được các đơn vị kiểm tra nghiệm thu đạt yêu cầu theo quy định. 2.3. Kết luận:
- Bằng những kết quả đạt được trong quá trình thi công, có thể kết luận như sau:
+ Độ chính xác đảnh bảo yêu cầu theo quy phạm hiện hành để thành lập cơ sở nền thông tin địa lý tỷ lệ 1/2000 trở lên và Thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1/500 trở lên.
+ Rút ngắn thời gian thi công, thao tác đơn giản, giảm thiểu sai số thô.
3. XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH
Năm 2003, Công ty đã phát triển thành công phần mềm CESTOPO chạy trên nền phần mềm Micrstation V8 để biên tập bản đồ địa hình tỷ lệ 1/2000 và 1/5000 khu vực thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ và huyện đảo Phú Quốc, sau đó tiến hành áp dụng phần mềm ArcGIS để thành lập hệ thông tin địa lý của các khu vực trên.
Từ năm 2008, để góp phần thực hiện 2 Dự án của Bộ Tài nguyên và Môi trường về “Thành lập cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý ở tỷ lệ 1/2000, 1/5000 các khu vực đô thị, khu vực công nghiệp, khu vực kinh tế trọng điểm” và “Thành lập cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý ở tỷ lệ 1/10000 gắn với mô hình số độ cao phủ trùm cả nước”, Công ty Tài nguyên và Môi trường miền Nam đã đầu tư thiết bị và nghiên cứu ứng dụng công nghệ số, thành lập cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý trên cơ sở công nghệ đo vẽ ảnh số, tổng hợp bản đồ địa chính, bản đồ địa hình đã có kết hợp đo vẽ và điều tra bổ sung tại thực địa. Công ty đã phát triển thành công phần mềm VDHgeoDB, geoCDH, biên tập dữ liệu địa lý gốc và bản đồ địa hình số; chuyển đổi dữ liệu địa lý gốc sang cơ sở dữ liệu GIS theo chuẩn của Bộ. Phần mềm tiên tiến ArcGIS của hãng ESRI để thành lập cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý theo quy chuẩn, đã được ứng dụng có hiệu quả trong việc thực hiện Dự án “Thành lập cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý ở tỷ lệ 1/2000, 1/5000 các thành phố: Đồng Hới, Tuy Hòa, Nha Trang, Biên Hòa, Tân An, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Bến Tre, Bạc Liên, Cà Mau; các thị xã: Ba Đồn, Cam Ranh, Long Khánh, Thủ Dầu Một, Tây Ninh; các khu kinh tế Hòn La, Nam Phú Yên” và Dự án “Thành lập cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý ở tỷ lệ 1/10000 gắn với mô hình số độ cao phủ trùm các tỉnh: Nghệ An, Quảng Bình, Tây Ninh, Bình Phước, Đồng Nai”.
Với việc áp dụng quy trình công nghệ này thực tế đã cho thấy thời gian thi công được rút ngắn xuống chỉ còn khoảng 1/3 so với các phương pháp truyền thống trước đây. Cụ thể: Khu vực thành phố Hồ Chí Minh, nếu thi công 1000 mảnh bản đồ địa hình tỷ lệ lớn theo công nghệ truyền thống thì phải mất từ 4-5 năm nhưng khi sử dụng công nghệ này thì thời gian hoàn thành chỉ còn 1 năm rưỡi. Qua kết quả đã thực hiện được ở các công trình mà Công ty đã thi công có thể thấy rằng việc sử dụng công nghệ này là rất cần thiết và thực tế đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho Công ty.
4. THÀNH LẬP BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH CÔNG NGHỆ SỐ
Bản đồ địa chính
Bản đồ địa chính là một loại bản đồ chuyên môn, phục vụ cho ngành địa chính và quản lý đất đai. Bản đồ địa chính được xây dựng dựa trên cơ sở: các tiêu chuẩn ngành, các văn bản, quy phạm, quy định hiện hành của Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) và dựa trên kết quả của công tác điều tra khảo sát tại thực địa và các trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ đo đạc tiên tiến hiện nay, nhằm đáp ứng các mục đích sau:
- Xác nhận hiện trạng và thể hiện biến động về ranh thửa, địa giới hành chính.
- Là tài liệu cơ bản phục vụ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đối tượng sử dụng đất.
- Làm cơ sở quy hoạch sử dụng đất; Quy hoạch xây dựng và phát triển nhà; Quy hoạch các công trình giao thông, thông tin, thuỷ lợi...
- Quy trình công nghệ thành lập bản đồ địa chính: Khảo sát chuẩn bị tài liệu, thiết bị đo đạc, xác định địa giới xã theo tài liệu 364/CT; Xây dựng lưới khống chế đo vẽ (kinh vĩ cấp 1 và 2, toàn đạc); Xác định ranh đất, đóng cọc mốc giới, lập biên bản ranh thửa đất, điều tra dã ngoại; Đo vẽ chi tiết, vẽ lược đồ, xác định các công trình chính trên thửa đất và các địa vật khác; Chuyển số liệu đo đạc vào máy tính và tiến hành biên tập bản đồ; Kiểm tra bản vẽ gốc ngoại nghiệp, ghép biên cùng tỷ lệ và khác tỷ lệ, chỉnh sửa, in kết quả đo đạc địa chính thửa đất, in bản mô tả ranh giới thửa đất; Biên tập bản đồ địa chính theo địa giới hành chính; In chính thức bản đồ gốc, bản đồ địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính và các loại hồ sơ liên quan. Bản đồ địa chính công nghệ số có ưu điểm:
1. Các lớp thông tin bản đồ đ¬ược quản lý thống nhất trong một cơ sở toán học nhất định.
2. Mỗi đối t¬ượng bản đồ được chứa trong một lớp riêng biệt nên thuận lợi cho việc chỉnh sửa cũng như¬ cập nhật dữ liệu.
3. Một bản đồ có thể chứa được nhiều lớp thông tin khác nhau trong cùng một file.
4. Tạo vùng, tính diện tích và vẽ nhãn thửa tự động.
5. Tạo bản đồ, khung bản đồ tự động theo một hệ thống thống nhất trong toàn quốc.
6. Độ chính xác cao.
7. Tiết kiệm đ¬ược thời gian.
Ngày nay, công tác đo đạc thành lập bản đồ địa chính ở các tỉnh, thành phố trong cả nước phục vụ cho việc quản lý, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà đã và đang là nhiệm vụ cấp bách trong toàn Ngành Địa chính. Hiện nay, Công ty đã và đang thành lập bản đồ địa chính cho hầu hết các tỉnh thành trong cả nước.
Công tác đăng ký thống kê phục vụ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu Nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được tiến hành một cách khoa học trên cơ sở áp dụng công nghệ thông tin. Việc đăng ký được tiến hành trên máy tính nên có những ưu điểm sau:
- Dữ liệu được cập nhật thống nhất.
- Hệ thống hồ sơ, sổ sách, bảng biểu thống kê và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được in ấn tự động đảm bảo chính xác, mỹ quan.
- Hệ thống dữ liệu thuận tiện cho tra cứu, sử dụng và cập nhật.
Công tác này đã được triển khai thực hiện thành công tại nhiều tỉnh như: Cao Bằng, Hà Giang, Quảng Ninh, Hưng Yên, Nam Định, Hoà Bình, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Khánh Hoà, Bình Định, Bình Phước, Tây Ninh, Đăk Lăk, Đăk Nông, Long An, Cần Thơ, Bến Tre, Tiền Giang, Vĩnh Long, Kiên Giang, Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu…
Bản đồ địa chính cơ sở
Bản đồ địa chính cơ sở được thiết kế phủ trùm toàn tỉnh trên cơ sở các tư liệu ảnh mới nhất hiện có, kết hợp với kết quả khảo sát thực địa. Bản đồ được thành lập theo hệ toạ độ VN-2000, kinh tuyến trục riêng theo từng tỉnh. Đặc biệt bộ bản đồ này được thành lập bằng công nghệ số có độ chính xác đạt cao hơn độ chính xác của bản đồ cùng tỷ lệ đã lập trước đây vừa cho phép in bản đồ trên giấy vừa cho phép sử dựng trên máy vi tính cho nhiều mục đích khác nhau, cho phép xây dựng cơ sở dữ liệu nền chính xác phục vụ việc xây dựng hệ thống thông tin địa lý, đồng thời cũng cho phép cập nhật, hiện chỉnh các nội dung một cách thuận lợi, kinh tế và nhanh chóng hơn các loại bản đồ được thành lập bằng công nghệ cũ. Bản đồ địa chính cơ sở là căn cứ để lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp, giúp các cấp, các ngành trên địa bàn các tỉnh quản lý chặt chẽ tài nguyên đất, tài nguyên rừng. Hiện nay Công ty đã thành lập bản đồ địa chính cơ sở cho các tỉnh như: Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai, Quảng Bình, Bình Định, Phú Quốc...
5. TRẠM XỬ LÝ ẢNH HÀNG KHÔNG
Các ảnh hàng không được chụp từ máy bay ở một tỷ lệ xác định, sau đó được đưa vào trạm xử lý ảnh (Image WorkStation) dưới dạng ảnh Raster, ảnh này thu được bằng phương pháp quét ảnh từ phim chụp ảnh máy bay. Trên cơ sở các điểm khống chế ảnh mặt phẳng và độ cao được xác định toạ độ, độ cao ngoài thực địa (hiện nay dùng công nghệ GPS và thuỷ chuẩn kỹ thuật), các trạm xử lý tiến hành xử lý ảnh trên các phần mềm chuyên dụng dùng cho ảnh hàng không. Sản phẩm cuối cùng thu được là những tấm ảnh hàng không được nắn chuyển về mặt phẳng ở tỷ lệ xác định, các tờ ảnh đã được khử sai số do khi chụp ảnh gây ra. Ngoài ra, trạm Imagestation còn hỗ trợ các công việc thành lập bản đồ từ ảnh hàng không bằng phương pháp đo vẽ ảnh số và thành lập bình đồ ảnh số phục vụ đo vẽ ảnh nội nghiệp và điều tra thông tin ngoại nghiệp, giúp cho người làm công tác bản đồ giảm thiểu các công tác đo vẽ ngoại nghiệp và tăng năng xuất thành lập bản đồ rất nhiều. Hiện nay Công ty đang sử dụng quy trình xử lý ảnh trên các trạm xử lý ảnh phẳng và ảnh nổi do hãng Intergraph cung cấp.Tóm lại, việc phát triển và ứng dụng thành công các công nghệ đo đạc và bản đồ chủ yếu nêu trên đây đã góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm đo đạc và bản đồ, rút ngắn thời gian thi công, đáp ứng các yêu cầu cung cấp tài liệu điều tra cơ bản của ngành đo đạc và bản đồ; đồng thời mang lại hiệu quả trong hoạt động sản xuất của Công ty. Phát huy những thành tựu đã đạt được, Công ty TNHH MTV Tài nguyên và Môi trường Miền namsẽ tiếp tục đẩy mạnh phát triển ứng dụng công nghệ mới trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ nhằm góp phần thực hiện mục tiêu chiến lược của Ngành là: Nâng trình độ công nghệ đo đạc bản đồ nước ta lên ngang trình độ các nước trong khu vực, đảm bảo tự động hoá từ khâu đo đạc số liệu ngoài thực địa tới khâu bản đồ. Xây dựng hệ thống đo đạc bản đồ theo chuẩn thống nhất đảm bảo cung cấp thông tin nhanh, chính xác cho mọi hoạt động quản lý nhà nước, phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ đất nước, nghiên cứu khoa học và nâng cao dân trí; cung cấp tư liệu đo đạc bản đồ cho việc đánh giá chính xác tài nguyên quốc gia, đảm bảo cơ sở khoa học cho việc khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
6. LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG
Hiện nay, các hoạt động dân sinh, phát triển KTXH có xu hướng tập trung phát triển dọc theo các lưu vực sông đã và đang gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường nước như ô nhiễm nguồn nước, ngập lụt tại các đô thị. Tình trạng ô nhiễm môi trường nước đã xảy ra tại hầu hết các lưu vực sông của Việt Nam như sông Sài Gòn – Đồng Nai, sông Thị Vải, sông Nhuệ, Đáy … Quản lý lưu vực sông (QLLVS) cần có sự phối hợp đồng bộ giữa tất cả các quốc gia, địa phương cùng dòng sông chảy qua. Trong những năm qua với nỗ lực tự nghiên cứu, phát triển và hợp tác quốc tế, Trung tâm Kỹ thuật Môi trường trực thuộc Công ty đã ứng dụng thành công 8 công cụ quản lý lưu vực sông và các phần mềm đánh giá khả năng chịu tải của sông phục vụ cho công tác quản lý tài nguyên và môi trường các lưu vực sông như: hạ lưu sông MeKong, sông Maspero tỉnh Sóc Trăng, sông Ba Láng tỉnh Hậu Giang, sông Hàm Luông tỉnh Bến Tre…
Trước tình hình biến đổi khí hậu và xâm nhậm mặn ngày càng gia tăng dẫn đến tình trạng thiếu nước ngọt phục vụ cho sinh hoạt, Trung tâm Kỹ thuật Môi trường đã áp dụng công nghệ lọc màn để xử lý nước nhiễm mặn thành nước ngọt cung cấp cho các khu dân cư ven biển tại tỉnh Bến Tre. Ngoài ra, để kiểm soát chất thải nguy hại ngày càng gia tăng cũng như xử lý các khu vực bị ô nhiễm nghiêm trọng, Trung tâm Kỹ thuật Môi trường đã ứng dụng công nghệ xử lý chất thải nguy hại bằng phương pháp tái sinh và tiêu hủy cho các khu và cụm công nghiệp tại tỉnh Long An và vùng lân cận. Ứng dụng công nghệ hóa sinh để xử lý thành công nước rỉ rác cho các bãi rác tại các huyện thuộc tỉnh Bến Tre, Hậu Giang…và công nghệ sinh học cao tải (dạng module) để xử lý nước thải bệnh viện trên địa bàn tỉnh Hậu Giang…
Ngoài ra, để phục vụ cho công tác quản lý và truy xuất dữ liệu về tài nguyên và môi trường được dễ dàng, nhanh chóng và thuận lợi, Trung tâm Kỹ thuật Môi trường đã nghiên cứu và xây dựng phần mềm quản lý CSDL tài nguyên và môi trường (E.Map), phần mềm quản lý số liệu quan trắc môi trường (EM.Map) phục vụ cho các dự án tại tỉnh Bến Tre, Sóc Trăng, Cà Mau...
7. CÁC LOẠI MÁY, THIẾT BỊ HIỆN ĐẠI
1.MÁY MÓC, THIẾT BỊ:
- Các trạm đo vẽ ảnh số loại SSK Pro với tính năng như sau: Pentium IV 2.6GHz, RAM 1000 MB, Monitor 21 inch; ổ cứng 120Gb.
-Máy quét ảnh độ phân giải cao:
+ SKAI - 2 độ phân giải 7µm, 14, 21...
+ PS1 độ phân giải 7,5µm, 15, 22.5,...
-Các trạm máy tính để biên tập bản đồ;
-Máy in khổ A0;
-Hệ thống xử lý ảnh nổi, hệ thống xử lý ảnh phẳng;
-Hệ thống quản lý và lưu trữ thông tin;
-Hệ thống định vị toàn cầu GPS, DGPS:
+ Các thiết bị GPS đo tĩnh: 4000SE, 4000 SI; 4000 SSE, 4000 SSI, 5700, 5800 của hãng TRIMBLE.
+ Các thiết bị GPS đo động (RTK): 4600 LS; 4800 LS, 5700 LS của hãng TRIMBLE.
+ Thiết bị định vị DGPS: máy SeaSTAR HP8300 của hãng FUGRO
+ Thiết bị định vị GPS bằng công nghệ LODG.
-Thiết bị đo sâu: máy NAVISOUND 210 của hãng RESON –USA;
-Máy thuỷ chuẩn điện tử: DL-101C (đo thủy chuẩn hạng 1, 2, 3, 4);
-Các loại máy toàn đạc điện tử có độ chính xác cao của các hãng sản xuất nổi tiếng trên thế giới cung cấp: TOPCON; SOKKIA; LEICA; NIKON, SOUTH. 2. PHẦN MỀM:
a) Phần mềm dùng cho sản xuất:
-Phần mềm đo vẽ ảnh số;
+ Image Station Photogrammetric Manager (ISPM)
+ Image Station Stereo Display (ISSD)
+ Image Station DTM Collection (ISDC)
+ Image Station Feature Colletion (ISFC)
+ MicroStation CAD Graphic Engine
+ GeoMedia Professional
+ Image Station Model Setup
+ Image Station OrthoPro
+ MGE Terrain Analyst
+ IRAS/C
-Phần mềm tăng dày: Image Station Automatic Triangulation;
-Phần mềm tạo DEM: Image Station DTM Collection;
-Phần mềm nắn ảnh trực giao: Image Station OrthoPro, GeoMedia Professional;
-Phần mềm xử lý số liệu đo GPS: GPSSURVEY, TRIMBLE GEOMATICS OFFICE, GPSBase, v.v...;
-Các phần mềm số hóa và biên tập các loại bản đồ: FAMIS-CADDB, CESMAP, CESTOPO, VDHgeoDB, geoCDH, MAPPING OFFICE, MGE, ACADMAP, SDR, MICROSTATION;
-Phần mềm đăng ký thống kê và chỉnh lý biến động CESDATA, CESLIS;
-Phần mềm xây dựng hệ thống thông tin địa lý (GIS): GEOMEDIA, ArcGIS, ArcSDE, ArcIMS v.v...;
-Phần mềm tính toán bình sai lưới đa giác;
-Phần mềm bình sai lưới độ cao;
-Phần mềm kiểm tra sổ thủy chuẩn;
-Phần mềm kiểm tra và tổng hợp kết quả đo GPS;
-Phần mềm thành lập bản đồ địa hình đáy biển và dẫn đường: HYDRO 6.07 trên môi trường DOS, trên môi trường Windows có HYDROPRO 2.2.
b) Phần mềm dùng cho quản lý:
-Phần mềm Quản lý nhân sự;
-Phần mềm Quản lý tư liệu bản đồ;
-Phần mềm Quản trị tài chính kế toán
-Phần mềm Quản lý kế hoạch sản xuất